Mô tả cảm quan: Rễ hình thoi, hai đầu hơi nhỏ lại, dài 1,5 – 6 cm. Mặt ngoài có màu trắng ngà đến nâu và nhiều nếp nhăn dọc nhỏ; phần ruột trắng ngà, có lõi nhỏ ở chính giữa. Chất mềm dẻo. Mùi thơm nhẹ, vị hơi ngọt.
Tính vị quy kinh: Cam, vi khổ, vi hàn. Vào các kinh tâm, phế, vị.
Công năng, chủ trị: Dưỡng vị sinh tân, nhuận phế thanh tâm. Chủ trị: Phế nhiệt do âm hư, ho khan, ho lao, tân dịch thương tổn, tâm phiền mất ngủ, tiêu khát, táo bón. Theo Võ Văn Chi: Mạch môn dùng làm thuốc cầm máu chữa thổ huyết, ho ra máu, chảy máu cam; Lợi tiêu hoá; Lợi sữa cho đàn bà đẻ nuôi con.
Cách dùng – Liều dùng: Ngày dùng từ 6g đến 12g. Dạng thuốc sắc. Thường phổi hợp với các vị thuốc khác.
Kiêng kỵ – Thận trọng: Tỳ vị hư hàn, ăn uống chậm tiêu, ỉa chảy không nên dùng
Bài thuốc thường dùng:
- 1. Bài thuốc chữa bệnh ho, khó thở, họ lâu ngày: Mạch môn đông 16g, Bán hạ 8g, Đảng sâm 4g, Cam thảo 4g, gạo nếp sao vàng 4g, Đại táo 4g, nước 600ml. Sắc còn 200ml. Chia làm 3 lần uống trong ngày (đơn thuốc của Trương Trọng Cảnh).
- 2. Bài thuốc chữa tắc tia sữa: Mạch môn đông bỏ lõi, tán nhỏ. Mỗi lần uống 10-12g. Lấy sừng tê giác mài với rượu uống độ 4g. Uống độ 2-3 lần.


