Mô tả cảm quan: Rễ hình trụ cắt ngắn, đường kính 0,3 – 0,8 cm, màu nâu, vỏ nhăn nheo. Thể chất dẻo, mùi thơm đặc trưng của Ngưu tất.
Tính vị quy kinh: Khổ, toan, bình. Vào các kinh can, thận.
Công năng, chủ trị: Hoạt huyết thông kinh, mạnh gân cốt, bổ can thận. Chủ trị: Dùng trị đau lưng gối, mỏi gân xuơng; bế kinh, kinh nguyệt không đều, tăng huyết áp. Theo Võ Văn Chi: Ngưu tất còn dùng cho bệnh tăng cholesterol máu, đái buốt ra máu, đẻ khó hoặc nhau thai không ra, sau đẻ ứ huyết, chấn thương tụ máu, viêm họng.
Cách dùng – Liều dùng: Ngày dùng từ 6g đến 12g, dưới dạng thuốc sắc.
Kiêng kỵ – Thận trọng: Người khí hư, tỳ vị hư hàn, mộng tinh, di tinh, hoạt tinh; Phụ nữ có thai, băng huyết không được dùng.
Bài thuốc thường dùng:
- 1. Chữa bị thương, tụ máu ở ngoài hay bị ngã máu ứ ở trong, hoặc sau mỗi khi đi xa hay lao dộng chân tay nhức mỏi: Ngưu tất 100g, Huyết giác 50g, Sâm đại hành 30 ngâm với 800ml rượu (35-40 độ), thường lắc, sau 10 ngày dùng uống mỗi lần 15ml, ngày uống 2 lần.
- 2. Chữa nóng bức, nhức đầu, chóng mặt, đau mắt, ù tai, mắt mờ, huyết áp cao, rối loạn tiền định, khó ngủ, đau nhức dây thần kinh, rút gân, co giật, táo bón: Ngưu tất 30g, hạt Muồng sao 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

