Mô tả cảm quan: Quả hình thoi được tách bỏ hạt, dài 0,5 – 1 cm, rộng 0,3 – 1 cm. Mặt ngoài màu đỏ bầm đến đỏ đen, nhăn nheo. Chất mềm dẻo, mùi nhẹ, vị chua, đắng nhẹ.
Tính vị quy kinh: Toan, sáp, vi ôn. Vào các kinh can, thận.
Công năng, chủ trị: Bổ can thận, cố tinh sáp niệu. Chủ trị: Di mộng tinh, tiểu tiện nhiều, đái dầm, đau lưng gối, ù tai, mồ hôi nhiều, phụ nữ bị khí hư, rong kinh, rong huyết.
Cách dùng – Liều dùng: Ngày dùng từ 6g đến 12g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.
Kiêng kỵ – Thận trọng: Dùng thận trọng khi tiểu khó, ít.
Bài thuốc thường dùng:
- 1. Chữa thận hư, tai ù: Sơn thù du, Thạch xương bổ, Địa hoàng, Cam cúc hoa, Hoàng bá, Ngũ vị tử, các vị đều nhau 6g sắc uống hằng ngày hay ngâm rượu uống. Uống trong thời gian 15 hôm lại nghỉ 10 ngày rồi uống tiếp 3 đến 5 lần.
- 2. Chữa đau xương óc: Theo quan niệm trong đông y, óc là bể chứa tủy có đẩy thì mới khỏi đau: Sơn thù du, Sữa người, Sa uyển, tật lê, thục địa hoàng, nhân sâm, mạch môn, ngưu tất, cam cúc hoa, các vị bằng nhau, mỗi vị 4g, sắc uống hằng ngày. Uống luôn trong 20 ngày.
- 3. Lục vị địa hoàng hoàn – bổ can thận âm: Sơn thù 32mg, Thục địa 64mg, Hoài sơn 32mg, Trạch tả 24mg, Bạch linh 24mg, Đơn bì 24mg. Các vị tán bột, luyện với mật làm hoàn, viên bằng hạt ngô đồng. Ngày 2-3 lần mỗi lần 10-20 viên.


